Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

GS Nguyễn Khắc Nhẫn - Bài học của sự cố mất điện lớn tại miền nam Việt Nam


Nguyễn Khắc Nhẫn
Lời dẫn nhập của trang Diễn Đàn: Chiều ngày 22.5, một sự cố xảy ra trên đường dây 500kV Bắc-Nam, "gây nhảy tất cả các tổ máy phát điện trong hệ thống điện miền Nam, gồm 15 nhà máy với 43 tổ máy tổng công suất 7.300 MW, dẫn tới mất điện toàn bộ ở miền Nam (khoảng 9.400 MW)" - theo thông báo sau đó của EVN. Đáp lại các câu hỏi của chúng tôi chung quanh sự kiện này, GS Nguyễn Khắc Nhẫn đã dành thời gian viết một bài tổng quan về sự cố nghiêm trọng này trên thế giới trước khi liên hệ đến chuyện xảy ra ở Việt Nam, và rút ra những bài học cần thiết. Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của GS Nguyễn Khắc Nhẫn.
1- Những sự cố mất điện quan trọng đã xảy ra trên thế giới:
Trước khi đề cập đến sự cố ớ Việt Nam, tôi xin phép nhắc lại, theo thứ tự thời gian, những sự cố nổi tiếng nhất diễn ra từ nửa thế kỉ nay (không kể Trung Quốc và Nga). Người ta gọi "blackout" khi sự cố tác động đến hàng trăm ngàn hay hàng triệu người.
Mỹ, 1965: toàn bộ miền Đông Bắc nước Mỹ và phía Nam Ontario với 30 triệu người bị cúp điện. Nguyên nhân là do một đường dây 230 kV bị cắt, sau đó là các đường dây nối tiếp và sự ngưng hoạt động các tổ máy.
Mỹ, 1977: thành phố New York bị chìm trong bóng tối, 6 GW bị cắt. Nguyên nhân là do mưa giông và sét đánh. Điện được phục hồi 15 giờ sau đó.
Pháp, 1978 (19/12): sụp đổ toàn bộ lưới nối Paris và miền Đông. Lý do ở sự quá tải (giờ cao điểm, thời tiết quá lạnh) trên đường dây 400 kV Nancy-Troyes. Rã điện dây chuyền. Đó là sự cố lớn nhất xảy ra ở Pháp.
Pháp, 1987 (12/01): ban đầu 3 tổ của nhà máy nhiệt điện Cordemais bị ngưng, tiếp theo sau đó là 9 tổ nhiệt điện và hạt nhân. Công suất mất là 9000 MW. Toàn bộ miền Tây nước Pháp bị ảnh hưởng, Điện áp sụp đổ nhanh chóng. Nguyên nhân là do 1 máy biến thế.
Nhật, 1987 (23/07): 3 triệu dân vùng Tokyo bị cúp điện. Lý do là trời quá nóng và việc sử dụng máy lạnh quá mức, Lưới mất ổn định, điện áp sụp đổ. Các tổ của 3 nhà máy bị ngưng.
Canada, 1989 (13/03): 6 triệu dân vùng Québec bị mất điện. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của từ trường trái đất liên quan đến gió mặt trời mạnh.
Canada và Mỹ, 1998 (tháng 1): vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là Québec. Lý do là bão tuyết. Sức nặng của mưa đá đã làm gãy đổ rất nhiều tháp và trụ điện.
Đan Mạch và Thụy Điển, 2003 (23/09): 5 triệu người bị ảnh hưởng.
Ý-Thụy Sĩ, 2003 (28/ 09): 56 triệu khách hàng bị cúp điện. Nguyên nhân gây ra bởi sự phóng điện giữa một cây xanh và đường dây cáp, và sự quá tải 110% trên một đường dây.
Thụy Sĩ, 2005 (22/06): 1500 tàu lửa bị tê liệt và 100.000 hành khách bị mắc kẹt. Lý do ở ngắn mạch trên một đường dây, rã nhiều nhà máy và phản ứng dây chuyền.
Châu Âu, 2006 (4/11): 15 triệu dân châu Âu bị mất điện. Sự cố lớn nhất tác động lên hệ thống UCTE (Union pour la Coordination du Transport de l'Electricité). Nguyên nhân do hai đường dây 400 kV ngừng hoạt động theo kế hoạch rồi sau đó bị hoãn lại vì một tàu thủy trên sông Ems ở Đức. Nhiều đường dây bị rã (do tải điện) và nhiều nhà máy ngừng hoạt động. Sự cố càng trầm trọng do các máy phát điện gió nối vào hệ thống một cách không liên tục.
Mỹ, 2008 (26/02): 3 triệu người ở Florida không có điện trong vòng 4 tiếng đồng hồ. Lý do sự cố kĩ thuật tại một trạm biến thế ở gần Miami. Ngừng hoạt động 2 lò phản ứng hạt nhân.
Nhật, 2011 (11/03): 4 triệu dân vùng Tokyo bị cúp điện. Nguyên nhân do động đất và sóng thần (thảm hoạ nhà máy điện hạt nhân Fukushima)
Ấn Độ, 2012 (31/07): 670 triệu người mất điện. Đây là sự cố lớn nhất trong lịch sử. Lý do : hệ thống (lưới bị bão hoà và suy yếu vì mức tiêu thụ điện tăng trưởng quá nhanh) và nhất thời (thiếu nước cho các nhà máy thủy điện do hạn hán)
Philippines, 2013 (8/05): Manille và 40% đảo Luzon bị cắt điện.14 nhà máy điện ngưng chạy.
Thái Lan, 2013 (21/05): 8 triệu dân của 14 tỉnh bị tê liệt. Nguyên nhân do sét đánh.
2- Nguyên nhân sự cố ở Việt Nam
Ảnh VnExpress
Tôi mong sớm có dịp đọc được bản báo cáo chính thức của EVN (Electicité du Việt Nam) để biết rõ chi tiết kĩ thuật và sự mất mát to lớn về kinh tế.
Theo báo chí trong nước (*), sự cố (blackout) xảy ra ngày 22/05/2013, vào khoảng 14h19, là do một cây chạm vào đường dây 500 kV Di Linh – Tân Định (sự cố Ý-Thụy Sĩ ngày 28/9/2003 cũng có nguyên nhân tương tự). Có phát ra tia lửa điện và một tiếng nổ, sau đó là sự rã kế tiếp nhau các mạch truyền tải và phân phối, kể cả đường dây 500 kV, đưa điện từ Bắc vào Nam. Sự cố dẫn đến phản ứng dây chuyền ở 19 nhà máy phía Nam: 43 tổ máy bị ngưng hoạt động. Tổng công suất bị cắt là 9400 MW (tương đương với 9 lò phản ứng hạt nhân). 8 triệu khách hàng (hộ gia đình, công ty, hành chính...), trong đó 1,8 triệu dân thành phố Hồ Chí Minh bị mất điện trong thời gian từ khoảng 1 đến 8 tiếng đồng hồ. Hai chục năm qua không có sự cố lớn như vậy là may lắm!
Nguyên nhân ban đầu không phải là quá tải như trường hợp ở sự cố lớn nhất của EDF (Electricité de France, Công ty Điện lực Pháp) ngày 19/12/1978 (EDF lầm tưởng rằng các rơ le sẽ tự động giải quyết vấn đề – một phần lớn của lưới điện Pháp có thể được cứu vãn nếu EDF lúc bấy giờ cắt điện ngay lập tức!)
Sự mất điện nhanh chóng của lưới điện miền Nam liên quan đến nhiều hiện tượng vật lý được trình bày sau đây.
3- Những hiện tượng khoa học đưa đến sự sụp đổ lưới điện:
Trong quá trình sụp đổ, các hiện tượng vật lý đáng lo ngại nhất là:
– Quá tải trên đường dây (cường độ quá lớn) gây sự rã điện nối tiếp nhau ở nhiều đường dây cũng như ở các tổ máy phát điện
– Mất tần số (f)
– Mất điện áp (U)
– Mất đồng bộ giữa các nhà máy (f1 – f2)
– Dao động ở tần số thấp (trường hợp các hệ thống điện rất lớn)
Sự kết hợp hay nối tiếp nhau của các hiện tượng là thường xuyên xảy ra.
Một kiến trúc hệ thống điện nghiên cứu kĩ, một kế hoạch nghiêm túc, với những nhân viên khai thác kinh nghiệm, có thể tránh được nhiều sự cố.
Theo UCTE, lưới điện phải tiếp tục hoạt động sau khi mất bất kì tổ phát điện hay bất kì đường dây nào (nguyên tắc N-1). Pháp còn đòi hỏi cao hơn với nguyên tắc (N-k) với k lớn hơn 1 (nghĩa là lưới điện không bị sụp đổ ngay cả khi có 2 tổ bị ngưng)
Danh sách những sự cố đã xảy ra cho thấy rằng trong thực tế ta có thể gặp nhiều trường hợp cực kì phức tạp, dẫn đến nhiều sự cố khác nhau hoặc đồng thời. Bên cạnh những hiện tượng vật lý trên đây, người ta còn gặp những sai sót do yếu tố con người (trình độ đào tạo, mất tỉnh táo, cẩu thả, bảo trì...) hay thiết bị (rơ le, automat, hệ thống bảo vệ, hệ thống ổn định...)
Làm kế hoạch hệ thống điện ở EDF, chúng tôi thường giải bài toán kinh tế khá phức tạp sau đây :
Cs: kinh phí dự án (coût du projet ou de la stratégie)
It: kinh phí đầu tư năm t
Et: phí tổn khai thác năm t kể cả tổn hao
Dt: phí tốn sự cố mất điện năm t (coût de la défaillance ou coût du préjudice causé à la collectivité en cas de coupure du courant)
V(T): giá trị sử dụng của hệ thống điện năm T (valeur d'usage du réseau à l'année T)
a: hệ số hiện tại hoá (taux d'actualisation)
4- Những biện pháp bảo vệ an toàn lưới điện:
Tôi xin vắn tắt nhắc lại vài biện pháp phòng ngừa cổ điển:
– Làm hai đường dây hoặc đường dây hai mạch (để dự phòng nhưng không phải lúc nào cũng kinh tế).
– Chôn các đường dây dưới đất để tránh các hiện tượng thời tiết bất thường (mưa giông, sét bão, sương giá, băng tuyết). Những đường dây ngoài trời thì rẻ hơn rất nhiều, do đó có vấn đề quan trọng về chi phí. Mặt khác, với điện áp cao và rất cao, người ta tránh chôn các sợi dây cáp, vì dòng phản kháng rất lớn.
– Duy trì công suất dự phòng cho các nhà máy.
– Sử dụng hệ thống FACTS (Flexible AC Transmission System).
– Tăng độ ổn định của hệ thống bằng cách nối liền với các nước lân cận.
– Áp đặt các điều kiện về ổn định (mất tần số) đối với việc sản xuất năng lượng tái tạo (ví dụ năng lượng gió).
RTE (Réseau de Transport d'Electricité - công ty con của EDF, phụ trách khai thác, bảo trì và phát triển hệ thống đường dây điện cao thế) của Pháp có những quy định đặc biệt nghiêm ngặt cho việc bảo vệ lưới điện. Nó bao gồm nhiều hàng rào kế tiếp nhau. Bảo vệ theo chiều sâu truyền thống bao gồm :
– tách tự động các vùng bị mất đồng bộ.
– cắt điện tự động các hộ tiêu thụ do giảm tần số.
– chặn xung quanh các bộ điều chỉnh các máy biến áp.
– Cô lập (ilotage) tự động các tổ phát điện theo các máy phụ trợ.
Người ta phân biệt 3 lĩnh vực : thiết bị, tổ chức và nhân sự và 3 giai đoạn: ngăn ngừa, giám sát và biện pháp cuối cùng.
Ngăn ngừa nhằm không cho khơi mào các hiện tượng đáng ngại nêu trên (ví dụ, điều chỉnh kế hoạch điện áp cao và giám sát các nguồn dự trữ công suất phản kháng của các tổ máy).
Giám sát nhằm phát hiện các sai lệch của các thông số vật lí chính (điện áp, tần số, cường độ) để thực hiện đúng lúc các động tác cần thiết. Các điểm hoạt động có nguy cơ cao nhất có thể được phát hiện bởi các bộ báo hiệu về nguy cơ mất ổn định điện áp.
Biện pháp cuối cùng bao gồm các hành động đặc biệt nhằm ngăn chặn sự sụp đổ lưới điện.
Những nhân viên điều phối và những nhân viên phụ trách khai thác phải biết lấy quyết định dứt khoát, không ngần ngại hi sinh một phần khách hàng để tránh sự tan rã cả lưới. Cắt điện cấp tốc có thể cứu được hệ thống, bởi ta làm cân bằng giữa cung cấp và tiêu thụ.
Khi xảy ra sự cố của lưới điện châu Âu ngày 4/11/2006, sự cắt điện tự động chớp nhoáng đã giúp tránh sụp đổ toàn bộ hệ thống.
Các thao tác bằng tay rất chậm không phải lúc nào cũng đáng được tin cậy. Chúng ta cần các thiết bị tự động đặc biệt nhanh.
Bất kể hệ thống bảo vệ tinh xảo đến đâu, ta cũng không bao giờ loại trừ được một sự cố lớn có thể xảy ra.
Đừng quên rằng lúc phục hồi lại lưới điện cần thời gian để đi các bước sau đây:
– Chẩn đoán hiện trạng.
– Chuẩn bị lưới điện.
– Khôi phục từ các vùng.
– Truyền điện lại (renvoi de la tension).
5
- Bài học cho Việt Nam là gì:
Sự cố ngày 22-5-2013 cho ta thấy sự mỏng manh của hệ thống điện Việt Nam, đặc biệt là đường dây 500 kV Bắc Nam quá dài.
Năm 1992, lúc về nước công tác, tôi đã gửi một báo cáo cho chính phủ, trong đó tôi trình bày những lý do tại sao tôi không ủng hộ việc xây dựng đường dây 500kV này:
Không ổn định động (instabilité dynamique) của đường dây bằng một phần tư bước sóng (quart d'onde =1500 km) (vì lẽ ấy mà có 5 trạm bù rất tốn kém)
Thời gian xây dựng quá ngắn (24 tháng thay vì 60 tháng)
Thiếu thì giờ nghiên cứu về địa hình và địa chất
Đánh giá thấp chi phí lúc ban đầu : 300 triệu thay vì 600 triệu đô la Mỹ (trong thực tế chi phí cuối cùng cao hơn nhiều)
Dự án không kinh tế và không bảo vệ môi trường
Chi phí khai thác rất lớn (do phải đi qua rừng rú và nhiều vùng có cây che phủ)
Rất khó đảm bảo an toàn và an ninh đường dây
Ngay lúc bấy giờ, tôi đã đề nghị nên sớm áp dụng mô hình sản xuất điện phân tán (production décentralisée) phù hợp với việc khai thác năng lượng tái tạo sau này. Các vùng phải tìm cách độc lập về điện, nhưng liên kết để có thể cứu cho nhau. Các nhà máy với công suất nhỏ hay vừa nên được xây cất rải rác trên toàn lãnh thổ. Cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ ở địa phương và từng vùng đảm bảo an toàn hơn cho sự cung cấp điện, đồng thời tránh kinh phí làm đường dây và lãng phí truyền tải.
Sau sự cố vừa qua, có người đã đề nghị xây dựng thêm đường dây Bắc Nam. Điều đó không hợp lý chút nào về mặt kinh tế lẫn kĩ thuật và đi ngựợc chiều với mô hình phân tán ngày nay. Trong bản báo cáo nói trên, tôi đã nêu ý kiến nên củng cố các cột tháp để khi cần lắp mạch thứ hai, khỏi phải làm đường dây 500 kV khác. Nhưng tiếc không ai nghe!
EVN cần xét lại chiến lược phòng chống cho toàn hệ thống truyền tải, phân bố và phân phối điện lực
Trước mắt, đảm bảo an toàn cho hệ thống điện quốc gia hiện thời không thể chỉ trông cậy vào việc xây dựng thêm các nhà máy và đường dây. Nên để dành các phương tiện tài chính để củng cố và nâng cấp sự bảo vệ chu đáo các mạng lưới
6- Việt Nam và hệ thống điện thông minh (Smart grid):
Dù sao trong tương lai, với sự phát triển nhanh chóng (mà tôi mơ ước từ lâu) các nguồn năng lượng tái tạo và cách sử dụng mới về điện năng, EVN cũng phải hiện đại hoá hệ thống điện.
Nên tiến hành từng bước với một kế hoạch trung và dài hạn, phải có sự phối hợp chặt chẽ, bởi vì sự hiện đại hoá này cần kinh phí rất lớn.
Trong khi ngành tin học làm bùng nổ cuộc cách mạng số với internet và điện toán đám mây (cloud computing), những người làm việc trong lĩnh vực điện đang sống cuộc cách mạng năng lượng, với một trong những hướng đi hứa hẹn nhất nhì là Smart grid. Người ta đã đề cập đến Smart meter, Smart consumers, Smart home, Smart building, Smart city, Smart transport...
Trong lĩnh vực tin học, Microsoft và Google cũng đã nghĩ đến điện kế thông minh để thiết lập các bảng tiêu thụ. Khách hàng, nếu chỉ biết một ít chi tiết về cách tiêu thụ thôi, cũng có thể giúp họ làm giảm chi phí.
Khắp nơi trên thế giới và đặc biệt là ở Pháp và châu Âu, thay vì xây dựng ồ ạt các đường dây mới như trong quá khứ, họ ưu tiên triển khai các công nghệ Smart grid.
Ta biết rằng, vào bất cứ lúc nào, để duy trì ổn định của lưới thì cung phải bằng cầu.
Khi mà điện năng không thể lưu trữ (với số lượng lớn), các lưới thông minh cho phép tối ưu các mắt lưới trong hệ thống điện, bao gồm tất cả các nhà sản xuất và tiêu thụ, bằng cách cải thiện hiệu suất các nhà máy, tối thiểu hoá các tổn thất trên đường dây, ưu tiên đón nhận các nguồn năng lượng tái tạo, phân phối điện với chi phí rẻ nhất.
Mặt khác, Smart grid còn cho phép tăng cường sự an toàn, tiết kiệm năng lượng, cải thiện hiệu quả năng lượng, san bằng các đỉnh tiêu thụ, giảm công suất phát đỉnh (tốn kém nhất và thường là ô nhiễm nhất), giảm một phẩn CO2.
Cấu trúc sản xuất phân tán, với nhiều nguồn năng lượng tái tạo, thực hiện việc đưa năng lượng vào các lưới phân phối (ban đầu thiết kế để chuyển đi chứ không phải để thu gom lại). Nhờ công nghệ thông tin và truyền thông, các lưới liên lạc với nhau, cho phép đảm bảo sự cân bằng sản xuất – tiêu thụ ở từng thời điểm, với khả năng phản ứng và tin cậy cao hơn. Có sự tương tác giữa tất các các đối tượng, đặc biệt là phía người tiêu thụ, trong suốt dây chuyền hệ thống mà giờ đây không còn tuyến tính nữa. Khách hàng được khuyến khích giảm bớt tiêu thụ một cách dễ dàng vào những giờ cao điểm. Họ sẽ có thể tiêu thụ ít hơn với cùng tiện nghi. Sự điều chỉnh nhằm đảm bảo cân bằng được thực hiện không chỉ bởi phía cung và còn bởi, và nhất là, phía tiêu thụ.
Kiến trúc top-down cổ điển của hệ thống điện chúng ta rồi đây không còn hợp thời nữa! Trong tương lai, hệ thống sẽ hoạt động theo kiểu tương tác (top-down và bottom-up). Mạng lưới thông minh và liên lạc với tốc độ cao cho phép tự điều khiển, tự sản xuất và tự tiêu thụ. Smart grid chiếm ưu thế nhờ các thiết bị đo đạc và viễn thông tinh xảo, các máy tính mạnh và các phần mềm tối ưu và thích nghi.
Trong hai năm 2010 và 2011 vừa qua, ERDF (chi nhánh của EDF) đã thử nghiệm điện kế thông minh Linky với 300.000 khách hàng tại vùng Tours và Lyon. Nếu mọi việc tốt đẹp, kể từ năm 2014, Pháp sẽ bắt đầu triển khai 35 triệu điện kế Linky. Chi phí đầu tư sẽ trên 5 tỉ euro.
Sự linh hoạt của hệ thống điện thông minh cũng cho phép quản lý các ràng buộc tinh tế như sự gián đoạn của các nguồn năng lượng tái tạo và sự phát triển của các loại hình sử dụng mới như ô tô điện.
Người ta có thể nói rằng nhà kinh tế người Mỹ Jeremy Rifkin (mạng internet năng lượng) và Tổng thống Obama (trong một diễn văn nổi tiếng) đã thành công trong việc khơi dậy những suy nghĩ hữu ích ở những nhà công nghiệp về sự quan trọng sống còn của mạng lưới thông minh. Theo Bộ năng lượng Mỹ, nếu nhờ Smart grid mà lưới điện của Mỹ cải thiện hiệu quả 5% thì nó cho phép tiết kiệm khoảng từ 46 đến 117 tỉ đô la từ đây đến 10 năm sau (chưa tính đến tiết kiệm về khí thải gây hiệu nhà kính từ 53 triệu ô tô!). Về phía châu Âu, nhờ vào Super Smart Grid (SSG), có thể phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo và phân tán, giảm mạnh CO2, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống điện.
Nhật và Đức (thành phố Fribourg), dẫn đầu trong nghiên cứu về hiệu quả năng lượng, một phần nhờ vào Smart grid, tiêu thụ ít hơn trước đây trong khi vẫn đảm bảo nguyên vẹn chất lượng dịch vụ.
Ở nước ta, các chuyên viên quy hoạch đô thị, các kiến trúc sư nên chú trọng đến việc cải thiện các quy định về xây dựng và trùng tu, quan tâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường xây dựng, bằng cách kết hợp, mỗi khi có thể, những nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối...) trong các toà nhà, căn hộ cá nhân đủ điều kiện.
Sự xuất hiện của Smart grid rõ ràng đặt ra những vấn đề tài chính gay go cần giải quyết. Phải đầu tư mạnh, bắt đầu từ mạng lưới phân phối. Bài toán kinh tế hiện nay chưa thể định nghĩa rõ ràng.
Nhưng ta có thể nói ngay rằng mạng lưới thông minh sẽ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người: nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà công nghiệp, người tiêu dùng, các tổ chức và cuối cùng là nhà nước.
Tất cả các nước phát triển đều hướng đến mạng lưới thông minh. Smart grid sẽ chiếm một vị trí thống trị trong hệ thống điện tương lai.
Chương trình hạt nhân Việt Nam dự kiến, từ 2014 đến 2030, sẽ xây cất 14 lò phản ứng (1000 MW mỗi lò, trong số 10 lò đầu, sau đó là 1300 MW – 1500 MW) phân bố trên 8 địa điểm, nằm tại 5 tỉnh ở miền Trung. Năm tỉnh đó là: Ninh Thuận (3 địa điểm), Quảng Ngãi (2), Phú Yên (1), Bình Định (1), Hà Tĩnh (1).
Trên giấy mực, thời điểm để đưa vào hoạt động lò phản ứng số 1 của Nga là năm 2020 (điều này chắc là không thể kịp)!
Khai thác hệ thống điện quốc gia với nhiều lò phản ứng hạt nhân (mà thời gian dừng và tái khởi động không nhanh được), liệu EVN có kịp chuẩn bị để đối phó với những sự cố vô cùng phức tạp và quan trọng hơn không?
7- Đôi lời tâm huyết:
Như đã trình bày ở trên, nếu cứ tiếp tục tập trung những nhà máy đồ sộ ở miền Trung, theo mô hình cổ điển đã lỗi thời, thì ta đi ngược trào lưu kĩ thuật mà không biết!
Rồi đây dân chúng, sẽ sợ lãnh thổ bị cắt đôi vì phóng xạ hơn là lo bị cắt điện. Đồng bào sẽ không ngủ yên vì sợ đất nước bị sụp đổ hơn là lưới điện bị tan rả!
Tôi thiết tha đề nghị Chính phủ Việt Nam cấp tốc thay đổi chiến lược về năng lượng để khỏi hối tiếc. Chính phủ cần thể hiện một quyết tâm chính trị tham vọng và quyết liệt trong việc khuyến khích triệt để khai thác năng lượng tái tạo, hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Ta đừng vội quên sự đổi hướng thông minh và can đảm của nước Đức và cũng nên biết rằng Danemark sẽ có 100% năng lượng mặt trời vào năm 2050!
Ta nên cố gắng phát triển ngay từ bây giờ một kế hoạch giáo dục năng lượng chủ động cho đồng bào. Việc thay đổi thói quen tiêu thụ của người dân là đặc biệt cần thiết
Để có thể hoà nhịp với cuộc cách mạng năng lượng thế giới đang bùng nổ, để tránh sự chậm trễ kéo dài, nước ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc từ bỏ nhanh chóng chương trình điện hạt nhân, quá tốn kém và vô cùng nguy hiểm cho biết bao nhiêu thế hệ con cháu mai sau!
Với hàng chục, hàng trăm tỉ đô la đổ vào 14 lò phản ứng, rồi sau này phải tháo gỡ các nhà máy, xử lý chất thải phóng xạ, chưa kể việc xây dựng các đường dây mới, EVN có thể đầu tư dần dần, từng bước, và ngay từ bây giờ, vào một kiến trúc thông minh, hiện đại và an toàn cho hệ thống điện quốc gia.
Người xưa nói: Tri bá niên tiền, Tri bá niên hậu.
GS Nguyễn Khắc Nhẫn
Nguyên Giám Đốc Trường Cao đẳng Điện học và Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Sài Gòn (nay là Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh)
Nguyên Cố Vấn Nha Dự Báo, Kinh Tế và Chiến Lược EDF

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

TIN BUỒN: THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT BẠN ĐỖ NGỌC QUÝ


 
Chúng tôi vô cùng bàng hoàng đau xót khi được tin Bạn Đỗ Ngọc Quý  từ trần ngày 22.06.2013 tại quê nhà Phú Yên. Trong giờ phút tiễn biệt này, chúng tôi chỉ còn biết cầu nguyện để linh hồn bạn được thanh thản về cõi vĩnh hằng!
ANH EM BÈ BẠN LỚP 89 Đ1 BKĐN- THÂN HỮU VÔ CÙNG ĐAU ĐỚN BÁO TIN



Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Thư hậu họp lớp 2012 tại Huế


Huế, ngày 07/6/2012

Chào các bạn lớp 89Đ1,

Như vậy là sau gần 4 ngày kể từ ngày chia tay, BTC Huế mới có
thư gởi các bạn, thật là chậm trễ quá phải không các bạn.
Mới ngày nào, tụi mình lo ngay ngáy khi 2h30 sáng là bạn Danh
đã đến Huế, không biết tìm về được không, đến sáng nhận được
tin nhắn của bạn Huy Hoàng đã đến Phú Bài, sau đó tiếp tục
đón các bạn, tiếp đó là những ngày lớp mình sinh hoạt thật là
vui, nhưng cũng có lúc lo lắng khi con bạn Cường, bạn Thông
ốm, bạn Huy Hoàng phải “hy sinh” chuyến dã ngoại để đưa các
cháu đi thăm bác sĩ...

Thế rồi cuộc vui nào cũng đến lúc dừng, các bạn đến mang theo
niềm vui từ mọi miền đến với Huế, các bạn đi đã mang theo
không khí hội hè, niềm vui, để lại cho thành Huế những nỗi
trống vắng.

Được sự tín nhiệm của các bạn, BTC tụi mình đã cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ với mục đích duy nhất là làm sao để mọi người
đều cảm thấy gần gũi, vui vẻ và thoải mái để hy vọng rằng khi
chia tay, Huế thương để lại trong lòng mỗi người những kỷ niệm
đẹp khó quên. Tuy nhiên, vẫn không tránh những thiếu sót, vẫn
còn những điều các bạn chưa vừa ý, một lần nữa BTC gặp mặt
lần thứ 6 tại Huế rất mong các bạn thông cảm.

Cảm ơn các bạn và gia đình đã tạm gác bao nỗi bộn bề trăn trở
của cuộc sống để về với Huế để rồi sau những ngày vui, chúng
ta lại tiếp tục cuộc “chiến đấu” mới.

Chúc các bạn và gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Chào tạm biệt, hẹn gặp lại tại Phú Yên năm 2014.

Nguyễn Đại Phúc

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Hình họp lớp 2012 tại Huế

Sau đây là một vài tấm hình tiêu biểu. Mình đã resize cho nó nhỏ lại trước khi đưa lên Blog. Bạn nào muốn có file gốc thì cứ vào mail bạn Tiến đã gửi nhé.

Nhân đây, nếu ai có cảm xúc dâng trào, viết bài sau đợt họp lớp, thì viết rồi gửi mail về cho mình hoặc bạn Võ Thành Cường (quản trị blog) để poste lên cho mọi người cùng đọc nhé.

Thân mến.









































Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân


Phùng Liên Đoàn
22-05-2012
Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm
Nước Việt Nam đang đi ngược lại xu hướng trên thế giới là phải hết sức thận trọng trong việc xây nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) vì hai lý do chính: ĐHN có rủi ro gây tai nạn phóng xạ, và ĐHN rất đắt tiền. Việc đi ngược lại xu hướng này không phải vì ViệtNamcó một nền kinh tế mạnh hoặc một đội ngũ chuyên viên ĐHN chuyên nghiệp như Nga, Nhật, Đức, Mỹ, Pháp… mà vì lãnh đạo ta có một quyết tâm chính trị rất cao và có quyền không cần tham khảo ý dân. Quí vị lãnh đạo ta biết hết, lại tin vào lời báo cáo của cấp dưới là trong tương lai ta rất thiếu điện và ĐHN thế hệ lò thứ ba rất an toàn. Ngay sau biến cố Fukushima lãnh đạo ta vẫn khẳng định mạnh mẽ hơn thủ tướng Đức và thủ tướng Nhật là Việt Nam vẫn tiến tới việc xây nhà máy ĐHN.
Tôi mong mỏi quí vị lãnh đạo tìm hiểu kỹ càng thêm về kỹ thuật và kinh tế ĐHN cũng như quí vị đã để ý rất nhiều về thể diện quốc gia và vai trò chính trị của ĐHN.
Kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến cho biết việc xây nhà máy ĐHN Ninh Thuận và một chuỗi 6 lò ĐHN khác như dự tính không những sẽ không thành công, mà còn làm nước ta phụ thuộc vào nước ngoài nhiều hơn, con cháu ta sẽ còn phải đi làm lao công triền miên cho thiên hạ, và người trong nước thì vẫn thiếu điện để làm ăn. Khi việc này xảy ra vào những năm 2021 – 2030 thì quí vị lãnh đạo ngày nay không còn sống nữa hoặc không còn quyền hành gì nữa. Trách nhiệm về lỗi lầm ai sẽ gánh chịu? Mới 40-70 năm trước, lãnh đạo ta đã hi sinh nhiều triệu con dân Lạc Hồng để thực hiện một niềm tin tuyệt đối là Việt Nam đi đầu đem chủ nghĩa Marx-Lenin tạo hạnh phúc cho nhân loại. Hậu quả của niềm tin đó khiến nước ta tụt hậu, dân ta nghèo hèn, và còn đang gánh chịu đau thương nhiều thế kỷ. Nay ta đã biết gì về ĐHN? Và ta còn thì giờ không để sửa sai một quyết định chính trị rất phi kinh tế phi dân chủ này?
Tôi xin liệt kê dưới đây 8 lý do lãnh đạo Việt Nam nên hoãn xây ĐHN Ninh Thuận để có thì giờ nhìn vào tình hình ĐHN trên thế giới và lắng nghe lời can gián của người dân Việt không những trong nước mà còn rải rác khắp năm châu:
(1)  ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam;
(2)  Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện;
(3)  Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi;
(4)  Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước;
(5)  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm;
(6)  Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ Tướng tuyên bố;
(7)  Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta;
(8)  Bỏ Ninh Thuân, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù.
Tôi có tư cách gì bàn chuyện quốc gia đại sự này?
Tôi có cơ may tham gia vào các hoạt động hạt nhân của Mỹ trên 40 năm, từ những năm 1960s tới nay, kể cả việc tháo gỡ vũ khí nguyên tử, tẩy uế phóng xạ hậu quả của 50 năm chạy đua vũ khí hạt nhân, và thiết kế nhiều nhà máy ĐHN. Trong thời gian này tôi đã có mặt tại hầu hết các trung tâm nguyên tử của Mỹ, tham dự thiết kế xây dựng 6 nhà máy ĐHN và khảo sát hơn 50 nhà máy khác. Tôi đã tiếp xúc với các kỹ sư Nhật năm 1967 khi họ bắt đầu xây Fukushima Daiichi. Tôi đã học tập cùng với các kỹ sư Hàn Quốc, Đài Loan, Pakistan, Iran… khi những nước này chưa có một nhà máy ĐHN nào. Tôi đã làm việc tại United Engineers & Constructors năm 1967 khi công ty này xây dựng nhà máy Three Mile Island (TMI) tạiPennsylvania, rồi đến năm 1980 thì tôi lại khảo sát tai nạn nóng chảy TMI-2. Tôi đã từng khảo cứu hiện tượng China Syndrome (huyền thoại lò ĐHN nóng chảy tại Mỹ, chìm xuống đất và chui sang tận Tàu). Luận án tiến sĩ của tôi khảo cứu hiện tượng bình thép nặng 600 tấn của lò PWR 1000 MW bị bể, gây tai nạn nóng chảy “ghê gớm nhất”. Tôi là đồng tác giả khảo cứu WASH-1400 năm 1972-1975 là khảo cứu quan trọng nhất của Mỹ về các sự cố ghê gớm của ĐHN, dùng phương pháp rủi ro (probabilistic risk assessment) để làm luật Price Anderson bảo hiểm nhiễm xạ cho người dân. Ông Harold Denton, người được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm cứu nguy lò Three Mile Island trong cơn nguy biến tháng 3 năm 1979 là bạn của tôi tại cơ quan Định Chế ĐHN (U.S. Nuclear Regulatory Commission-USNRC) và đến năm 1995 lại là tư vấn trong công ty của tôi tại Oak Ridge, Tennessee. Tôi đã đánh cược 1 USD với ông Robert Bernero, người chuyên khảo cứu sự cố lò BWR (loại Fukushima) tại USNRC, là nhờ bài học TMI-2 Mỹ không thể có một tai nạn nóng chảy nữa tại một nhà máy nước nhẹ trước năm 2000. Tôi đã thắng cuộc; nhưng nếu tính cả tai nạnChernobylnăm 1986 (không phải loại lò nước nhẹ) và tai nạnFukushima(sau năm 2000) thì tuy không thua cuộc nhưng tôi cũng coi là thua, bởi vì tôi đã chủ quan quá lố. Tôi đã đặt giải thưởng lấy tên là Weinberg để phát 2 năm một lần tại American Nuclear Society cho một khoa học gia có tâm dùng năng lượng hạt nhân phụng sự xã hội.
Trong suốt 30 năm làm tư vấn nguyên tử tại Mỹ để sinh sống, tôi lại chuyên khá nhiều về kinh tế ĐHN so với các nguồn năng lượng khác.  Bài viết của tôi về ĐHN trình bày tại Việt Nam năm 1999 được USNRC lặp lại và kỹ sư Việt Nam tưởng là lý luận của Mỹ nên đã dùng để cổ võ cho việc xây ĐHN tại Việt Nam!
Với các kinh nghiệm thực tế trên, tôi có đôi chút hiểu biết về ĐHN và phải là người rất hăng hái trong việc xây dựng nhà máy ĐHN tại quê hương Việt Nam của tôi giống như một đồng nghiệp, ông Đinh Đức Hữu (nay đã qua đời), để ta có thể “ngang hàng” với các nước Á Châu tiên tiến như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,Trung Quốc.
(Xin xem phụ bản 1 phác họa quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn)
Nhưng không, với tất cả tâm tư ở tuổi 72 không vụ lợi, không tự ái, và đã nguyện đem hết tài sản của mình giúp trẻ em và người nghèo Việt Nam, tôi xin trình bày 8 lý do tại sao lãnh đạo Việt Nam nên nghĩ tới tương lai của con cháu mà hoãn việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận cho tới khi quí vị tổ chức cho người dân Việt Nam bàn bạc công khai về các lợi hại của chương trình ĐHN. Nếu người dân không có quyền được tham khảo, thì tôi nghĩ họ có quyền để di chúc cho con cháu không trả nợ cho các nước bán ĐHN cho Việt Nam khi mà các lãnh đạo ngày nay không còn sống mà nhận trách nhiệm đó.
Tám lý do đó như sau.
Lý do 1: ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam
Nhiều người Việt cho rằng tai nạn Fukushima năm 2011 thật là khủng khiếp, cùng với tai nạn Chernobyl năm 1986 và TMI-2 năm 1979 chứng tỏ rằng ĐHN là một quái thai khoa học kỹ thuật có hại cho loài người, cần phải dẹp bỏ. Tôi không đồng ý với lý luận dựa trên cảm tính sợ hãi nhưng không thực tế này. Tuy ĐHN thoát thai từ vũ khí hạt nhân, Fukushima và Chernobyl đã làm cả ngàn người nhiễm xạ và gây thiệt hại đất đai trên cả trăm cây số, năng lượng hạt nhân cũng đã đem lại phúc lợi cho nhiều trăm triệu người qua y học, nông nghiệp, ngư nghiệp, cùng là đóng góp 14% điện trên thế giới (1660 tỉ kWh/ năm, đáng giá 100 tỉ USD mỗi năm, và đã như vậy trên 30 năm rồi). Nó cũng giảm thiểu hơn 6 tỉ tấn khí CO2 và cả triệu tấn chất độc hại như thủy ngân, arsenic, nhôm, lưu huỳnh… mỗi năm các nhà máy đốt than đốt dầu thải ra khí quyển, một sự kiện gây đau ốm cho nhiều triệu người, khí quyển hâm nóng, bão tố to hơn, nước biển dâng cao và do đó gây đói kém cho cả tỉ người. Ta không thể đem hiểu biết và kỹ thuật nguyên tử đóng vào chai để cất đi, cũng như ta không thể dẹp bỏ kỹ thuật xe hơi hằng năm giết hơn 300.000 người và làm bị thương nhiều triệu người.
Nhưng ĐHN khó làm, khó điều hành, chỉ khả thi tại các nước giàu dùng rất nhiều năng lượng, có hạ tầng cơ sở tốt, có nhân công với văn hóa kỹ thuật và an toàn ở trình độ cao, kinh tế mạnh. Nước ViệtNamta hoàn toàn khác. Ta có chiến tranh liên miên từ nhiều thế kỷ, mới hòa bình tương đối vài chục năm, hạ tầng cơ sở còn rất yếu kém, kinh nghiệm an dân tế thế còn rất mỏng manh. Dân ta nghèo, sức thu nhập thua dân các nước tiên tiến cả chục lần (3300 USD/ capita [tính trên đầu người] so với 32.000 -37.000 USD/capita tại Hàn Quốc và Đài Loan). “Rừng vàng biển bạc” của ta chưa được khai thác khoa học đúng mức. Ta còn phải xuất khẩu lao động (thực sự là nô lệ) kiếm ngoại tệ cho ta nhập khẩu các thiết bị cần thiết. Ta nên dùng ngân sách nhỏ bé của ta nâng cao dân trí và cơm no áo ấm cho người dân trước khi phiêu lưu vào ĐHN khó làm và rất đắt mà chỉ các nước có kinh tế mạnh và người dân đã no ấm mới có thể làm nổi. Các lý luận cường điệu “tại sao không?” phần lớn dựa trên những quyết đoán nông cạn và duy ý chí.
Lý do 2: Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện
Ngày 27 tháng 7/2011, Thủ tướng ViệtNamký quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét tới 2030. Theo quy hoạch này, Điện lực Việt Nam (EVN) phỏng tính rằng tới năm 1920 thì Việt Nam cần 330 tỉ kWh và 1930 thì cần 693 tỉ KWh. Như vậy là chỉ 8 năm nữa, năm 2020, ta dùng một số điện ngang với Anh Quốc ngày nay (345 tỉ kWh); và năm 2030, ta dùng một số điện ngang với Đài Loan và Hàn Quốc cộng lại (229 tỉ kWh + 460 tỉ kWh = 689 tỉ kWh). Trong khi đó, GDP ngày nay của Việt Nam là 299 tỉ USD – chỉ bằng 13% GDP của Anh hoặc Hàn Quốc cộng Đài Loan (xem bảng A).
Bảng A: Vài con số GDP và điện (tài liệu CIA WorldFactbook, circa 2011)
ViệtNam
Thái Lan
Mã Lai
Đài Loan
Hàn Quốc
Anh Quốc
Đức
Nhật
GDP (tỉ USD)
299
601
447
885
1549
2.250
3.085
4.389
USD/capita
3.300
9.700
15.600
37.900
31.700
35.900
37.900
34.300
E (tỉ kWh)
109,3
139,2
117,9
229,0
460,0
344,7
545,0
860,0
E/GDP (kWh/USD)
0,366
0,232
0,264
0,259
0,297
0,153
0,177
0,196
Tỉ số dùng điện
1
0,63
0,72
0,71
0,81
0,42
0,48
0,54
.
Mặc dầu các con số trên có nhiều thành tố, ta vẫn có thể kết luận ta dùng điện rất phí phạm, tốn nhiều hơn 20-50% để sản xuất một đơn vị GDP khi so với các nước láng giềng và các nước tiên tiến. Số điện cần thiết cho năm 2020 và 2030 sẽ ít hơn khi ta học hỏi được cách dùng điện nhạy bén hơn. Rõ ràng đây là nhiệm vụ của giáo dục, của việc nâng cao dân trí, của trình độ kỹ thuật. Có người cường điệu cho rằng nhờ ĐHN ta sẽ có trình độ kỹ thuật cao hơn. Họ nên nhìn vào việc ta dùng xe Lexus, điện thoại di động, máy ảnh số… tràn lan trên khắp nẻo đường ViệtNamtrong khi ông đại sứ Nhật than phiền không công ty nào trong nước làm được chai thủy tinh theo chuẩn của rượu sake của Nhật sản xuất tại Huế! Kinh tế của ViệtNamsẽ không học hỏi được gì, hoặc chỉ học hỏi tí teo, nơi kỹ thuật ĐHN.
Chính phủ nên hoãn xây nhà máy ĐHN cho tới khi EVN và các nhà kinh tế xác định lại một cách công khai tại sao ta cần nhiều điện như trong quyết định Thủ tướng ký năm 2011.
Lý do 3: Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi
 Kinh nghiệm của thế giới là không có nhà máy ĐHN nào xây cất theo đúng giá dự kiến,thường sẽ đắt hơn 50% – 300%. Tôi đã theo dõi giá thành của hơn 30 nhà máy ĐHN tại Mỹ và thấy nhà máy nào cũng đắt hơn dự kiến ban đầu. Có nhiều lý do: (a) mỗi nhà máy là một sản phẩm đặc thù, phụ thuộc vào người xây, thời biểu xây, và các hãng cung cấp thiết bị và nhân sự; (b) luật lệ an toàn ngày một tăng và rắc rối, khiến cho việc xây cất phải sửa đổi, chờ đợi, tăng thêm thiết bị; (c) các hãng bán thiết bị ít khi cam đoan giá cả để còn phòng cơ hội tăng giá; (d) kiện tụng thường xảy ra trong bất cứ chương trình ĐHN nào; và (e) người cổ võ ĐHN thường dấu các cơ nguy tăng giá.
Tại Việt Nam, rủi ro giá thành tăng gấp 200%-300% hơn dự kiến là chắc chắn xảy ra, vì ta mắc phải hầu hết 5 nguyên nhân trên, mà còn mắc thêm hai nguyên nhân nữa; đó là (f) hạ tầng cơ sở của ta rất yếu (đường xá, cầu cống, cảng, vật liệu xây cất), và (g) nhân sự của ta chưa thấm nhuần văn hóa của công nghệ cao.Ta có nhiều ví dụ nhãn tiền các công trình lớn của ta đều đắt hơn dự tính mà lại không bền: nhà máy lọc dầu Dung Quất, đường dây 500 KV, đường Trường Sơn, thủy điện Lai Châu – Sơn La, xa lộ 1000 năm Thăng Long, đường hầm Thủ Thiêm…
Tiền nào của đó. Nếu rẻ thì ít tốt, ít an toàn hơn. Dù Nga có bán rẻ hơn Pháp, dù Nhật có viện trợ cho nhiều, thì nhà máy ĐHN Ninh Thuận cũng sẽ đắt hơn và xây lâu hơn dự tính, vì “đó là Việt Nam”! Ngân sách quốc gia sẽ bị vỡ nợ, không còn đủ tiền lo các vấn đề cấp bách hơn như giáo dục, y tế, quốc phòng, và cứu trợ trong trường hợp thiên tai. Chính phủ cần nhờ những nguồn độc lập đáng tin cậy tính lại cho thật kỹ và công khai giá thành và nguồn vốn xây ĐHN. Các kết quả có tính cách khoa học và thực tế sẽ giúp lãnh đạo quyết định sáng suốt hơn, thay vì “tới đâu hay nấy” theo cách hành xử thông thường tại ViệtNam.
Hầu hết các khảo sát trên thế giới đều kết luận giá thành nhà máy ĐHN là đắt hơn nhà máy đốt than, đốt khí thiên nhiên, và đập thủy điện. Nếu tính tổng thể cả nhiên liệu và điều hành thì điện từ nhà máy ĐHN chỉ kinh tế so với các dạng điện kia tại các nước tiên tiến như Nhật, Hàn, Mỹ, Pháp… Nhưng tại Việt Nam, tôi đã tính là ĐHN sẽ đắt gấp ba giá điện năm 2009, và vào năm 2020, sẽ vẫn đắt hơn điện từ đập nước, từ nhà máy đốt than và nhà máy đốt khí thiên nhiên.
Điện nào chẳng là điện. Lãnh đạo cần tìm đường dễ làm và rẻ tiền thay vì ĐHN để phục vụ người dân ViệtNamvốn đã rất nghèo và bị cúp điện kinh niên. Ta đã tuyên bố không làm bom nguyên tử, vậy thì ta càng nên tránh ĐHN rắc rối, đắt tiền, và có cơ nguy xảy ra tai nạn phóng xạ.
Lý do 4: Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước
Tại Mỹ, hãng máy bay Southwest Airline lớn mạnh và nổi tiếng làm ăn giỏi và an toàn là nhờ họ chỉ dùng một loại máy bay – Boeing 737; do đó huấn luyện phi công và nhân viên bảo trì một cách đồng nhất và có thể xoay sở dễ dàng khi có nhu cầu thay đổi chuyến bay. Các công ty lớn hơn như American Airlines, Delta Airline, United Airline… đều bị phá sản, vì nhiều lý do trong đó việc dùng nhiều loại máy bay cũng là một yếu tố quan trọng.
Vào những năm 1970-1980, các hãng điện lớn tại Mỹ như Commonwealth Edison, Duke, Tennessee Valley Authority… gặp rất nhiều khó khăn khi dùng nhiều loại nhà máy khác nhau như BWR của General Electric, PWR của Westinghouse, PWR của Babcock and Wilcox, và PWR của Combustion Engineering. Việc dùng nhiều loại lò và nhiều kiểu lớn nhỏ khác nhau khiến nhân viên phải được đào tạo đặc thù, giấy tờ kỹ thuật khác nhau giữa các nhà máy, và hệ thống an toàn khác nhau. Việc này phân tán và làm rối bời lực lượng nhân sự, khiến các nhà máy ĐHN chỉ sản xuất được 50 – 60% điện dự tính, và công ty bị thua lỗ. Ngoài ra, rủi ro có sự cố cũng rất cao. ViệtNamta đang mắc cái bệnh này, tự cho ta là “khôn” dùng nhiều kỹ thuật “hạng nhất” nhưng ta không biết là đã tự gieo cái mầm có nhiều sự cố trong tương lai. Với vài ngàn nhân viên ĐHN của ta dùng một ngoại ngữ cũng chưa thông, làm sao ta có thể đương đầu với tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Hàn và các tập huấn và luật lệ của họ cùng một lúc? Nếu họ đưa tài liệu và tập huấn ta bằng tiếng Anh thì các huấn luyện viên người Nhật, người Nga, người Hàn có thực thông mấy ngàn dữ kiện bằng tiếng Anh không? Làm sao ta có thể luân chuyển nhân viên từ nhà máy này sang nhà máy khác khi cần thiết? Khi các thiết bị từ con ốc, từ cái máy đo lường đều phải nhập khẩu, thì nhà máy ĐHN không sản xuất điện khi chờ đợi thiết bị được bay tới. Ta đã có kinh nghiệm với Dung Quất rồi, với các xe Lexus, Peugeot, Mercedes rồi, với các máy fax và điện thoại di động rồi. Ta không nên lệ thuộc nước ngoài quá nhiều về các vấn đề sinh tử như điện.
Trong chiến tranh ta có thể sử dụng tinh nhuệ mọi thứ khí giới, nhưng trong hòa bình ta không thể sử dụng tinh nhuệ nhiều loại nhà máy ĐHN. Ta không thể cường điệu “tại sao không?” cho tới khi ta học hỏi thêm về các nhu cầu 100% an toàn và 100% đáng tin cậy của nhà máy ĐHN.
Hoãn xây nhà máy ĐHN trong lúc này khi ta mới tốn vài chục triệu USD là giúp ta không tốn kém nhiều trăm triệu USD vào năm 2013-2015 và nhiều tỷ USD vào những năm 2015-2020.
Lý do 5:  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm
Theo chương trình, Việt Nam dự định đào tạo 2400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ từ 2010 tới 2020 để phục vụ nhà máy ĐHN. Đồng thời cũng đào tạo 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ để phục vụ các ngành liên hệ. Khoảng 10% kỹ sư và 40% thạc sĩ/tiến sĩ là được đào tạo tại ngoại quốc. Ngân sách đào tạo đã được chuẩn y năm 2010 là khoảng 150 triệu USD.
Điện nào chẳng là điện, tại sao ta lại đặc biệt ưu ái đào tạo chuyên viên ĐHN? Tại sao họ lại được học bổng và được đi nước ngoài? Tại sao lương họ lại cao hơn lương kỹ sư tại nhà máy than, nhà máy đập nước? Trong lịch sử của ta gửi người đi du học tại các nước tự do, bao nhiêu người đã trở về làm việc tại ViệtNam? Trong số người trở về ViệtNam, bao nhiêu người còn giữ nghề nghiệp được đào tạo và bao nhiêu người đổi sang nghề khác hoặc lại đi ra nước ngoài làm việc? Nếu kinh tế ViệtNamkhông phát triển mạnh thì làm sao ta giữ được người tài? Nếu ngành nghề không được tự do thì đến khi nào chính phủ không còn thất bại vì đầu tư nhân sự mà không đạt được mục đích?
Kinh nghiệm tại các nước Âu châu và Mỹ là bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ hoàn toàn không cần thiết cho việc điều hành ĐHN và các luật lệ dịch vụ phóng xạ. Thật ra, người ta rất e ngại các người ỷ mình có bằng cấp to mà không tuân thủ luật lệ hoặc làm sái đi vì cho rằng mình biết. Vì thế, ngân sách sẽ tiết kiệm được một số tiền lớn nếu có chính sách rõ ràng là đào tạo thực tập và tinh thần tuân thủ luật lệ chứ không đào tạo thạc sĩ tiến sĩ khảo cứu.
Nhưng với một ngân sách đào tạo như vậy trong một quốc gia mà rất nhiều trường mẫu giáo và tiểu học chưa có những phương tiện học hỏi tối thiểu, chưa có nước sạch và phương tiện vệ sinh tốt, thì ta tự hỏi có nên không? Tại sao ta không đào tạo như vậy đối với các nhân tài điều hành các nhà máy thủy điện, nhiệt điện để họ nâng năng suất và tạo thêm điện ở các dạng rẻ tiền và dễ dàng hơn ĐHN? Nếu ta cũng ưu ái các nhân viên tại các nhà máy sản xuất điện khác thì việc sản xuất thêm số điện 4-10% là rất khả thi thay cho chương trình ĐHN của EVN.
Lý do 6: Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ tướng tuyên bố
Quyết định của Thủ tướng năm 2011 nói rõ chính phủ chỉ giữ độc quyền đường dây chuyển tải điện. Vậy mà chính phủ làm ngược lại chính sách này bằng cách chấp thuận cho EVN, một công ty quốc doanh, dùng quyền thế nhà nước đi vay một số tiền rất lớn để làm ĐHN chưa chắc thành công nhưng chắc chắn toàn thể con cháu ta phải trả nợ. Nếu EVN là công ty tư thì họ có dám phiêu lưu như vậy không? Nếu chính phủ dùng số tiền đào tạo nhân viên ĐHN mà giúp cho tư nhân sản xuất điện tự do thì họ có thể dùng phương pháp dễ hơn để sản xuất 4000 MW điện vào năm 2020-2022 thay cho bốn lò ĐHN không?
Ai cũng biết không tư nhân nào, kể cả các ông tỉ phú ngoại quốc, sẽ bỏ tiền ra xây lò ĐHN cho Việt Nam vì rủi ro rất lớn về đầu tư, kỹ thuật, an toàn, và luật lệ. Ngay các hăng điện lớn của Mỹ còn phải xin chính phủ bảo đảm giùm khi họ đi vay tiền để xây ĐHN. Nếu chính phủ bỏ ra một phần số tiền dành cho ĐHN để khuyến khích tư nhân sản xuất, thì chắc chắn họ sẽ làm điện nhanh hơn và rẻ hơn ĐHN Ninh Thuận. Tôi xin đề nghị một vài phương pháp làm điện rẻ tiền hơn ĐHN:
  • Bán rẻ các bóng đèn fluorescent [huỳnh quang] để thay cho các bóng đèn nóng đỏ (incandescent). Các nước tại Úc, Mỹ, Âu đã áp dụng chương trình này từ nhiều năm. Ta chỉ tốn khoảng 500 triệu USD để thay 500 triệu bóng đèn và giúp giảm số điện dùng thắp sáng 60%, không phải xây thêm 6000 MW hay 6 lò ĐHN. Tính ra thì tiền đầu tư “không cần xây thêm” chỉ khoảng 100 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN. Mà việc này có thể làm ngay, kết thúc trong 5 năm, chứ không phải chờ đợi 10-12 năm như xây nhà máy ĐHN.
  • Đào tạo nhiều thợ điện chuyên nghiệp để thay các dây điện nhỏ bằng các dây lớn hơn, giảm bớt phí phạm truyền tải trong thành phố từ khoảng 5-7% xuống khoảng 2-4%. Tiền đầu tư này tương đương với khoảng 2000 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN, và còn tạo được cả ngàn công nhân điện có tay nghề và tránh trước rất nhiều nạn cháy nhà cháy chợ.
  • Tăng giá điện khi dùng quá một mức tối thiểu. Ví dụ, một gia đình chỉ cần khoảng 100 kWh mỗi tháng để thắp đèn và chạy máy móc, nhưng nếu họ đun bếp bằng điện hoặc có máy làm không khí mát, thì họ có thể phải dùng tới 400-600 kWh mỗi tháng. Nếu giá điện trên 100 kWh mỗi tháng tăng gấp đôi, trên 500 kWh mỗi tháng tăng gấp ba, thì người tiêu thụ sẽ dùng điện ít đi, và người bán điện vẫn có thu nhập khá. Chính sách này có thể tương đương với xây nhà máy điện giá 1000-2000 USD/kW. Ta lại đào tạo được một đội ngũ công nhân làm máy lạnh hiệu quả hơn, bịt kín các phòng có máy lạnh một cách khoa học để không mất khí lạnh, và lắp ráp cửa kính cách nhiệt tốt hơn (hai lớp kính thay vì một).
  • Tăng giá thu mua thủy điện lên gần giá sản xuất của nhiệt điện (ví dụ, từ 200 VND/kwh lên 1000 VND/kWh) sẽ giúp bảo trì các đập thủy điện và môi trường rừng tốt hơn, cùng là xúc tác cho người dân làm thủy điện ngay tại các sông ngòi (gọi là thủy điện với thế nước thấp). Việc này có thể tương đương với giá 500-1000 USD/kW thay vì 5000 USD của ĐHN. Ta bảo vệ môi trường, nâng cao an toàn thủy điện, và tạo được việc làm trong nước thay vì cùng tiền đó nhập khẩu điện và nhiên liệu từ nước ngoài.
  • Khuyến khích tương tự với điện gió, nhưng không trợ giá cao hơn, vì ta không nên theo xu hướng chính trị của các nước giàu “khuyến khích” dùng năng lượng tái tạo khi giá điện gió không có sức cạnh tranh. Ngay ông Obama của Mỹ đã thực tế hơn, không cổ võ cho “năng lượng tái tạo” mạnh miệng như một sinh viên nữa, mà thực tế hơn về việc dùng khí đốt thiên nhiên có được nhờ kỹ thuật mới tôi sẽ bàn dưới đây.
  • Trong mọi cơ hội trên, và các cơ hội tương tự, chính phủ nên chỉ đạo và áp dụng luật một cách nghiêm khắc nhưng công bằng, chứ không nên bắt tay làm, ngay cả qua các công ty quốc doanh là nơi dùng tiền không biết tiếc. Nhất là chính phủ nên áp dụng triệt để các luật an toàn đồng nhất cho người dân và cho môi trường, để ta không còn tệ nạn “nói bẻm mép” về việc “bảo vệ” nhưng khi thực hành thì rất luộm thuộm. Các cơ hội trên có kinh tế không thì thị trường sẽ tự giải quyết một cách tối ưu. Chính phủ sẽ tùy cơ hiệu đính chính sách một cách khôn khéo với sự đóng góp công khai của người dân.
Hoãn xây nhà máy ĐHN và thực hiện các công tác dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn như trên sẽ có lợi cho việc xử dụng ngân sách một cách hữu hiệu, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, tránh không nhập khẩu những gì không cần thiết, do đó kinh tế có hiệu quả hơn và người dân hạnh phúc hơn. Làm ĐHN là phiêu lưu kinh tế và chính trị. Nó làm kinh tế ta kiệt quệ, người dân không có việc làm, xã hội không ổn định và ta luôn luôn lệ thuộc nước ngoài.
Lý do 7: Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta
Trong 5-10 năm qua một hiện tượng khoa học kỹ thuật mới tại Mỹ đã làm đảo lộn chính sách năng lượng của Mỹ. Người ta dùng phương pháp khoan ngang (horizontal drilling) và phương pháp ép vỡ (fracking) đá thủy tra tại dưới sâu 500-3000 m, để khai thác dầu hỏa và hơi khí. Nước Mỹ nay sản xuất thêm được 500.000 tấn dầu mỗi ngày quanh những giếng dầu trước kia tưởng đã cạn. Quan trọng hơn, nước Mỹ dùng cách này tìm được dự trữ khí thiên nhiên có thể dùng suốt 100 năm tới. Việc này khiến cho giá khí thiên nhiên, vốn là một nhiên liệu quí hơn dầu vì dùng dễ hơn và ít ô nhiễm hơn, lại rẻ bằng 20% giá dầu tính theo đơn vị USD/kC hay USD/kWh(nhiệt). Mỹ đang có phong trào dùng khí thiên nhiên chạy 20 triệu xe vận tải lớn, và tạo điện thay cho than và dầu. Xây mới ĐHN tại Mỹ gặp rất nhiều khó khăn vì người ta có thể làm điện bằng khí đốt nhanh hơn và rẻ bằng nửa ĐHN.
Xu hướng khoan ngang và ép vỡ đá cũng đang được xử dụng tại Âu Châu và Trung Quốc. ViệtNamcần thăm dò kỹ thuật này cấp tốc, vì nó có quyết định sống còn với chính sách năng lượng của ta trong vòng 10 năm. Tốn kém chỉ ngang với việc sửa soạn xây nhà máy ĐHN (khoảng 50-100 triệu USD) và cơ may là rất lớn tìm được nhiều khí đốt; ví dụ, tại “vựa than sông Hồng” và các vùng có đá thủy tra. Việc này lại tận dụng được trí tuệ ViệtNamvốn từ xưa tới nay không được trọng bằng trí tuệ nhập khẩu.
Có người cường điệu cho rằng ĐHN dùng rất ít nhiên liệu, ta có thể khai thác mỏ uranium và tự chế các thanh uranium, hoặc ta có thể mua dự trữ các thanh uranium cho các nhà máy ĐHN của ta. Những người này chưa thấu hiểu quá trình tốn kém và khó khăn sản xuất uranium có U-235 giàu hơn thiên nhiên (3-4% thay vì 0,7%). Sau khi có uranium giàu U-235 rồi, việc chế tạo các thanh nhiên liệu cho nhà máy ĐHN lại còn cần một công trình kỹ nghệ tinh vi chỉ vài nước trên thế giới có thể làm (nếu thanh nhiên liệu làm ẩu thì phóng xạ tuôn ra sẽ rất cao, ta không điều hành được nhà máy). Giá nhiên liệu ĐHN khoảng 0,02 USD/kWh, nghĩa là khoảng 140 triệu USD mỗi năm cho một nhà máy 1000 MW. Làm sao ta có tiền mua các nhiên liệu đó dự trữ 5-10 năm?
Nếu Việt Nam có tiền bây giờ để “cam đoan” mua khí thiên nhiên của Mỹ trong 30 năm tới, thì giá khí thiên nhiên ngày nay rất rẻ và xây nhà máy đốt khí thiên nhiên chỉ mất 3 năm. Ta có thể sản xuất điện rẻ bằng 50% điện từ nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Tôi đề nghị ta theo chiều hướng này, nhưng tìm khí thiên nhiên ngay trong nước ta thay vì “cam đoan” mua của Mỹ.
(Xin xem phụ bản 2 phác họa kỹ thuật khoan ngang và ép bể đá thủy tra)
Lý do 8: Bỏ Ninh Thuận, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù
Sau khi lắng nghe các ý kiến công khai về ĐHN, nếu ViệtNamvẫn còn muốn có kỹ nghệ ĐHN cho 30-100 năm tới, thì ta nên tìm phương pháp đặc thù có lợi cho kinh tế Việt Nam.
Một trong các phương pháp đặc thù là xây các nhà máy ĐHN nhỏ trên bè, có thể làm tại một cảng như Cam Ranh rồi kéo tới nơi có nhu cầu điện. Kỹ thuật làm ĐHN trên mặt nước hoặc dưới nước đã chín muồi vì đã thực hiện an toàn tại các tàu ngầm nguyên tử, hàng không mẫu hạm nguyên tử, tàu chở hàng Savannah, và tàu xẻ băng Lenin, và 5-6 nhà máy ĐHN nổi loại Lomonosov đang xây tại Nga. Xây lò ĐHN trên bè thì không sợ động đất. Sóng thần cũng không làm hại được lò vì sóng thần chưa hề phá vỡ các công trình to lớn có tường xi măng cốt sắt bảo vệ.  Các lò nhỏ từ 100 tới 300 MW lại rất cần thiết cho các xứ đang mở mang có nhiều bờ biển, như Nhật, Phi Luật Tân, Nam Dương, các nước Phi Châu, các nước Nam Mỹ. Việt Nam có thể điều đình với Nga xây 10 nhà máy ĐHN nổi 200 MW thay vì 2 nhà máy Ninh Thuận. Ta làm dịch vụ đóng bè, tạo công ăn việc làm cho cả chục ngàn người. Nga làm các lò từng loạt trong công xưởng, như vậy giá sẽ rẻ tính theo USD/kW. Các lò này lại có thể thiết kế chỉ thay nhiên liệu 4-5 năm một lần, thay vì 1-2 năm như các lò lớn. Khi ta neo hai nhà máy này gần các nơi cần điện như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… thì độ tin cậy luôn luôn có điện (reliability) cao hơn, sự mất điện do truyền tải đi xa cũng ít hơn.
Cơ hội này giúp Việt Nam hội nhập thế giới ĐHN một cách đặc thù, và lại có một kỹ nghệ xuất khẩu ra thế giới thay vì hoàn toàn lệ thuộc vào nhập khẩu. Nhiều chục ngàn người sẽ có công ăn việc làm từ việc xây bè và các phụ sản của lò ĐHN. Nếu lãnh đạo Việt Nam thấy cơ hội này là có lý hơn ĐHN Ninh Thuận, tôi xin xung phong làm việc không lương (dùng lương tương xứng làm học bổng cho sinh viên Việt Nam), trong 3 năm để khởi đầu kỹ nghệ tương lai này cho Việt Nam trước khi chuyển giao cho một đội ngũ lành nghề tiếp tục. Nếu Việt Nam và Nhật bỏ 30 triệu USD để khảo sát địa điểm xây nhà máy Ninh Thuận 2, thì với một số tiền tương tự tôi có thể làm việc với Nhật, với Nga gây dựng kỹ nghệ ĐHN nổi rất an toàn và có triển vọng bán ra khắp thế giới. Tôi có thể hướng dẫn giới trẻ tuổi ViệtNamhọc hỏi các kinh nghiệm và luật lệ hạt nhân để trở thành tay nghề hàng đầu về ĐHN nổi. Như vậy thì ViệtNammới có thể tự hào là tiên tiến và có khả năng cạnh tranh kinh tế với kỹ thuật đặc thù.
(Xin xem phụ bản 3, hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi.)
Kết luận
Trong thời buổi khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế và ngân sách hiện tại của đất nước, lãnh đạo có cơ hội chuyển đổi tình hình và lòng ưu ái của người dân bằng một quyết định ngoạn mục là hoãn xây nhà máy ĐHN, trưng cầu dân ý theo những ý kiến tôi đề nghị (và nhiều ý kiến khác của trí thức Việt Nam và quốc tế), để hoạch định tương lai ĐHN tại Việt Nam nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung, và xa hơn là tương lai 100 năm của nước Việt Nam. Sự đóng góp của quí vị là ngay bây giờ. Quí vị anh minh thì con cháu ta sau này sẽ nở mày nở mặt. Còn như tiếp tục thiển cận, chậm chạp và độc tài thì quí vị sẽ làm người dân Việt Nam luôn luôn thua kém người dân các nước khác. Quí vị đâu có muốn như thế.

Nguồn: Sưu tầm Internet